Văn hoá giày dép Nhật bản hiện đại và truyền thống

825 Hán tự cơ bản

http://www.mediafire.com/?myycdjidumw

50 bài Minano Nihongo-Tiếng Việt

http://www.mediafire.com/?fwnzjzzuoga

Kanji topic

http://www.mediafire.com/?myozwzniede

Hướng dẫn điều khiển tụ bù

Download : HUONG DAN DIEU KHIEN TU BU

Sự khác biệt giữa Earth Fault relay & Earth Leakage relay

—-Về nguyên lý cơ bản cả 2 là giống nhau. Tuy nhiên khái niệm Earth fault thường áp dụng cho các dòng sự cố chạm đất có cường độ lớn, còn earth leakage áp dụng cho các dòng rò đất có cường độ nhỏ (thường dưới 10A). Earth leakage bảo vệ chạm đất tốt cho hệ thống tiếp địa kiểu TT, trong khi earth fault thì không. Tùy theo kiểu hệ thống tiếp địa mà bạn chọn F hay L. Tuy nhiên, đối với hệ thống tiếp địa ở VN bạn nên dùng kiểu F vì kiểu L có thể bị quá dòng ZCT.
Một ít kiến thức trung cấp cũng tham gia, anh nào thấy đúng thì Quote cho em 1 phát

Nguyên tắc chống dòng rò là dựa trên phương trình Kiếc sốp cơ bản: Ia + Ib + Ic + In = 0
Với Ia, Ib, Ic là dòng tại dây pha và In là dòng qua trung tính.
Đại lượng Ii = (Ia + Ib + Ic + In) được gọi là tổng dòng rò của hệ thống. Nếu Ii = 0, hệ thống là không bị rò và là “thật tuyệt vời”
Nếu Ii khác không thì Ii gọi là dòng rò hệ thống, thiết bị đo lường sẽ cảm nhận độ lớn của giá trị Ii để bảo vệ mạch. Với ELR có gắn kèm theo ZCT thì giá trị Ii cảm nhận là giá trị thực và nếu nó lớn hơn một giá trị nào đó được chỉnh (thường là từ 30mA đến 3A) thì ELR sẽ tác động để bảo vệ con người dưới tác động của mạng lưới.
Thực tế thì việc chế tạo ZCT cảm nhận Ii là rất khó khăn. Các hãng chỉ mới sản xuất loại ZCT với R = 200mm, đủ cho 4 sợi dây điện 400 mm2 chui qua. Điều đó có nghĩa là bạn chỉ dùng ELR kèm với ZCT với các cầu dao có dòng đến 630A mà thôi.
Với dòng cầu dao lớn hơn thì loại EFR được áp dụng. EFR sẽ gắn kèm với 4 PCT có tỷ số biến dòng là k (Ví dụ dòng 1250A thì tỷ số k = 1250/5 = 250)
4 PCT sẽ giúp đo được dòng Ie = Ii/k và dòng Ie sẽ tác động lên EFR để bảo vệ con người trước lưới. Tầm chỉnh là 0.03 – 3A nến dòng Ii sẽ được bảo vệ là từ 0.03xK – 3xK
Ví dụ với bảo vệ là cầu dao 1250A thì K=250A do đó tầm của Ii sẽ là từ 0.03×250 đến 3×250 tức là từ 7.5A đến 750A. Đây là dòng rất lớn nên không thể gọi là Earth Leakage được nữa. Người ta dùng thuật ngữ Earth Fault trong chính trường hợp này đấy bạn ạ!

Có thể hình dung thế này, bạn hãy vẽ 3 vector biểu thị cho dòng điện 3 pha lệch nhau 120độ. Nếu ở mức hoàn hảo thì tổng 3 vector này bằng 0. Tuy nhiên thực tế thì Ia+Ib+Ic = In nào đó với In là dòng đo được ở dây trung tính.

Khi có rò điện thì Ia+Ib+Ic khac In và được gọi là Ii chẳng hạn. cả 2 loai EFR va ELR đều tìm cách đo và phát hiện cái dòng Ii này.

ELR : dùng ZCT ( zero CT) ZCT chẳng qua là bộ cộng vector bằng từ trường thôi, nếu mạng điện của bạn chỉ toàn dùng tải 3 pha ( rất hiếm khi gặp) thì bạn chỉ việc cho 3 dây pha qua ZCT nếu không thì phải cho cả 4 dây qua ZCT. Ưu điểm : độ nhạy cao, giá thành hạ, gọn nhẹ nhưng khó thi công và hạn chế do kich thước ZCT có hạn. Lưu ý : có 2 loại ZCT : 1 loại cho ra tín hiệu dòng điện và 1 loại cho tín hiệu la điện áp. tốt nhất là relay của hãng nào thì dùng ZCT của hãng đó. ví dụ : chọn ELR 2.5 của SAMWHA – EOCR thì nên dùng ZCT của chính hãng.

EFR : dùng PCT ( protection CT) không phải MCT (measure CT). Lúc này Efr sẽ có thêm bộ so pha bên trong relay để cộng tín hiệu từ 4PCT. Ưu điểm : không hạn chế công suất, dễ thi công nhưng đắt tiền (do PCT chính hãng thường rất đắt nhiều khi đắt hơn cả relay chính), độ chính xác kém hơn ELR

Còn 1 điều nữa. khi chỉnh relay ra dòng tương 75A như bạn nói thì thực tế đây không hoàn toàn là dòng rò. bạn nên hiểu là ELR va EFR dùng để phát hiện sự cố. Nếu bình thường hệ thống có dòng rò la 10A thì cũng không sao miễn là nó vẫn an toàn. Nhưng khi có 1 sự cố phát sinh làm tăng giá trị này thi relay mới tác động bảo vệ. do vậy, độ chính xác của relay phụ thuộc khá nhiểu vào tích chất vật lý của hê thống điện.

Chào các bác !
Công trình mình đang thi công gặp một sự cố về Earth Fault. Các bác giúp mình với :
1- Công trình mình có tổng là 5 bộ Earth Relay bảo vệ cho tuyến cáp cấp cho tổng cộng 40 tầng (mỗi tuyến cáp cấp nguồn cho 8 tầng và được bảo vệ bởi 1 Earth Relay)
2- Có 4 bộ hoạt động bình thường một bộ bị sự cố. ( sự cố xảy ra cứ lâu lâu Earth Fault lại nhảy ‘mất điện’ 1 lần. có lúc 7 ngày hoạt động bình thường . Reset lại hoạt động bình thường, được 5 phút lại nhảy tiếp, reset lại hoạt động được vài ngày lại nhảy)
3- Các bác À 5 bộ Earth Relay điều có thông số kỹ thuật như nhau, cài đặt như nhau, cấp nguồn giống nhau cho các phụ tải, vì công trình mình là chung cư nên tất cả điều giống nhau) Mình không tìm ra được sự cố . Mong các giúp mình với !!!
4- Rất cả các tuyến cáp và phụ tải điều đảm bảo cách điện các Bác à thế mình mới điên đầu chứ !
Các Bác giúp mình với kẻo Mình Stress mất

CẢM ƠN CÁC BÁC NHIỀU

Công trình của bạn ở Hà nội hay TPHCM. À mà không quan trong. Bạn hãy dùng MegaOhm kế đo thử điện trở giữa các pha và N, E xem thế nào. Nếu bình thường thì trường hợp của công trình của bạn chính là thi công ẩu, nối N và E lẫn lộn nhau. Bạn phải kiểm tra từng mối nối thì mới thấy được nguyên nhân. Còn nếu chưa thỏa mãn ngay điều kiện thì thử chỉnh dòng sự cố tăng lên một chút. Bạn có thể chỉnh từ 0.3 – 3A. Nếu trường hợp của bạn đang chỉnh ở 0.3A thì thử chỉnh ngưỡng cao hơn. Nếu đã chỉnh 3A rồi thì nên làm một cuộc đại tu lưới điện của bạn.
Trường hợp vui vẻ thì có thể tháo bộ ELR cất trong kho cũng được!

Tôi không hoàn toàn đồng ý dòng rò 10A mà HT vẫn an toàn. Nếu hiểu đúng dòng rò (không phải là dòng qua trung tính do mất cân bằng tải giữa các pha) thì ở đây đã có sự suy giảm cách điện ở 1 điểm nào đó trên HT. Do đó, đây là sự cố, đồng thời với giá trị Irò = 10A, nếu vô tình người chạm vào một điểm trung tính nào đó trên HT sẽ bị giật điện, nguy hiểm. Mặt khác, một ngày nào đó điểm suy hao cách điện đó sẽ bị phá hủy và HT sẽ bị chạm đất có thể gây hư hỏng lan rộng.
Một điểm nữa, dòng chạm đất còn liên quan đến kết cấu lưới là trung tính cách ly với đất (dòng chạm đất nhỏ) hay trung tính nối đất trực tiếp (dòng chạm đất lớn), biết điều này để chọn rơle bảo vệ cho phù hợp – vấn đề này được nêu rất rõ trong các giáo trình lưới điện.
Với bạn Phan Cuong, công trình của bạn đã có một điểm nào đó bị suy hao cách điện, xử lý rất khó do có quá nhiều điểm nối và sự cố có tính chập chờn, khi phụ tải cao mới bị. Nguyên tắc tìm điểm hư hỏng là cô lập toàn bộ, rồi tái lập từ từ, đến điểm nào khi đóng điện gây bật rơle là “chính nó”. Tuy nhiên, có làm được việc này hay không lại là chuyện khác. Sau đó, thử xem có phải cái rơle bị hư không.
Cuối cùng hãy làm thám tử, điều tra xem phụ tải nào (hộ gia đình nào) khi đóng điện thì gây bật, quan tâm phụ tải lớn như điều hòa, máy bơm nước, máy nước nóng… (với 7, 8 tầng cũng hơi khó nhỉ)
Cách tiêu cực là tháo ELR ra như bạn nguyenledung đã bàn theo nguyên tắc “không thấy là xem như không biết”… thế là xong

Bạn Lệnh Hồ Xung ạ!
Đôi khi không nên làm quá phức tạp vấn đề này. Nếu mọi sự như bạn nghĩ thì HT bị sự cố rất nặng và các MCB, MCCB, ACB sẽ phải có 1 cái bị tác động nhảy mất điện rồi. Vấn đề ở đây là bị rò điện. Như bài post của bạn eocr và một số bài của tôi đã lý giải về ELR thì rõ ràng nếu nhầm lẫn giữa N và E thì hiện tượng rò điện là đương nhiên xảy ra.
Đối với nhiều thiết kế chỉ có 1 bãi tiếp địa an toàn và cực N của biến thế nối thẳng vào thanh tiếp đất chính thì điều này đương nhiên sẽ làm cho việc nhầm lẫn chỉ xảy ra khi có thời gian nhất định.
Xin lấy ví dụ nho nhỏ nhé: EF chỉnh ở tại 0.3A, tỷ số biến dòng là 60 thì dòng rò tính toán sã là 18A. Với tải 18A – 1 pha thì công suất tiêu thụ từ 3.0 kW đến 3.6kW. Đây là tải không lớn trong nguồn điện. Bạn phải đấu lộn cỡ 8 đến 10 line đèn thì EF sẽ kích cho CB nhảy. Tuy nhiên nếu 1 ngườii nào đó sờ vào dây E thì họ cũng khộng bị giật vì thực tế điện áp giữa dây E và điểm mà người đạt tay vào là xấp xỉ 0VAC nên không thể bị giật. Đối với line ổ cắm bị lắp nhầm thì việc này càng khó xảy ra nhảy CB do EF hơn vì bạn phải cắm nguồn tiêu thụ đủ thì thiết bị mới bị kích.
Phân tích như trên để thấy được tác hại của việc đấu sai giữa N và E. Để tìn nguyên nhân chỉ còn cách là tách N từng tủ điện và kiểm tra từng line cấp điện mà thôi.
Một điều cần lưu ý là khi bạn dùng EF thì MCCB của bạn tại các tải sau nên dùng loại có cực chẵn tức là bất cứ tải nào cũng phải cách ly cực N để quá trình xử lý sự cố tốt hơn. Tuy nhiên rõ ràng giá thành hệ thống điện sẽ tăng lên rất nhiều nếu thực hiện như thế và nhiều khi được xem là không cần thiết. Vì thế, quá trình thi công phải cẩn thận việc đấu giữa N và E. Thực tế nếu N và E luôn được phân biệt đúng trong quá trình thi công thì hiện tượng như của bạn Phan Cuong nêu ra là hầu như không thể xảy ra. Do đó, cách xử lý tăng dòng chỉnh lên để xem thử tần xuất nhảy EF có tăng lên hay không bị nữa là hoàn toàn có lý để tìm ra vài điểm nghi vấn rõ hơn. Nếu nó không nhảy thì rõ ràng chỉ 1 số ít tải 1 pha trong hệ thống bị đấu lộn và do đó ta chỉ quan tâm đến việc cách ly N tại từng tủ và kiểm tra xem khi bật tải 1 pha tại tủ nào thì đèn sáng hay ổ cắm vẫn tiêu thụ điện/

Chào bạn Phan Cuong

Theo bạn trình bày thì bạn quá tự tin vào hệ thống trên lý thuyết thôi. Trên thực tế làm gì có thể có 5 phụ tải hoàn toàn giống nhau như bạn nói. Đặc tính phụ tải phụ thuộc vào rất nhiểu yếu tố nên chúng không thể hoàn toàn giống nhau được. Ngay cả 5 cái EFR mà bạn cho là hoàn toàn giống nhau đó thực ra độ chính xác cũng rất khác nhau đó. Với công nghệ áp dụng hiện nay, thì hầu như không một hãng sx nào dám khẳng định độ chính xác của sản phẩm của họ là hoàn toàn giống nhau, thông thường phải có 1 sai số nhất định. Do đó, nếu bạn cài thông số giống nhau hoàn toàn và theo thông số nhỏ nhất thì chắc chắn chuyện như bạn kể sẽ xảy ra.

Cách khắc phục ư, theo tôi bạn nên kiểm tra và cài đặt thông số cho từng phụ tải. Đừng hy vọng hệ thống sẽ có khả năng chống giật cho toàn tòa nhà. Hệ thống của bạn chỉ có khả năing phát hiện dòng rò sự cố thôi.

Muốn chống giật an toàn hệ thống phải dùng nhiều thiết bị dạng EFR lắm :

VD :
tai mỗi căn hộ phải lắp 1 bộ ELCB tại ngõ vào, các thiểt bị chính phải lắp thêm ELCB như máy lạnh, Máy nươc nóng, bếp điện, hệ thống ổ cắm lắp 1 ELCB riêng, đèn riêng. với nguyên tắc càng về gốc thì giá trị dòng rò càng lớn. nếu elcb tại máy lạnh là 10mA thì ELCB chính phải từ 15-30mA. Nếu máy lạnh bạn lắp có tiếp địa tốt và bảo vệ bởi ELCB 5mA không bị nhảy thì khi bạn bị điện giật từ máy lạnh này ELCB sẽ nhảy. nhưng ELCB nguồn chưa chắc đã nhảy đâu.

Còn với hệ thống điện như bạn mô tả thì nó không có khả năng chống giật đâu. Do vậy, cứ chỉnh EFR đến mức nó không nhảy nữa là được.

Chào bạn phanledung!
Với sự phân tích rõ ràng và khúc chiết của bạn và bạn eocr, tôi nghĩ các bạn là những chuyên gia trong lĩnh vực thi công cung cấp điện. Các tính toán ví dụ của các bạn tôi không có gì phản đối vì hoàn toàn chính xác và hợp lý. Tuy nhiên, tôi chỉ có 1 ý, HT có dòng rò có thể vận hành bình thường nhưng không phải là 1 HT an toàn, nếu dòng rò đủ lớn sẽ có nguy cơ nguy hiểm. Vấn đề ở đây là dòng rò bao nhiêu là nguy hiểm. Nhìn hiện tượng thông thường, khi chạm vào dây tiếp đất sẽ không bị giật do đẳng thế nhưng nếu người thợ sửa chữa nào không biết mở dây tiếp đất và chạm 2 đầu khi dòng rò là 10 A thì anh ta sẽ bị giật điện.
Chắc chắn không có 1 HT hoàn toàn cân bằng nhưng phải đảm bảo dòng KCB ở giá trị không nguy hiểm cho con người. Việc chỉnh giá trị tác động của ELR cao lên chỉ là cách đối phó, không giải quyết cái gốc của vấn đề.
Những công trình phức tạp như chung cư, cao ốc.. việc đảm bảo an toàn cho HT điện được yêu cầu rất cao (vì đa số hỏa hoạn là do sự cố HT điện) nhưng thực hiện rất khó vì phụ thuộc nhiều yếu tố: chất lượng vật tư, tay nghề công nhân (rất quan trọng)… và đối với 1 chủ đầu tư khó tính (như tôi chẳng hạn) đây sẽ là vấn đề tranh cãi nhiều với đơn vị thi công.
Nói về tay nghề và trình độ công nhân là một vấn đề nan giải, tôi đã chứng kiến nhiều hình thức ẩu của công nhân như đấu dây vào CB không bấm cốt và cắt bớt tao dây để nhét vừa vào chỗ đấu dây trên CB, làm hỏng khóa tủ điện, nối dây lỏng lẻo… làm ẩu và giấu kỹ thuật B. Theo tôi đây là một trong những nguyên nhân chính gây ra dòng rò cho HTĐ
Một vài lời trao đổi với bạn, không hoàn toàn là kỹ thuật, mong có thêm ý kiến từ phía bạn

Tớ chẳng phải chuyên gia thi công đâu. Tuy nhiên nếu bạn vừa thi công vừa nghiên cứu kỹ thiết bị thì bạn sẽ phân vân có nên dùng EFR hay không mà thôi. Bạn Lệnh Hồ Xung có thấy rằng một dòng rò qua dây E lên đến 100A mới tác động ngắt mạch thì phải chăng không nên dùng nó nữa. Các thiết bị ELR hay ELCB được thiết kế trên nguyên lý bảo vệ con người. Các bạn học về an toàn điện cũng đã biết rằng nếu có dòng điện lên đến 10mA (không kể giá trị điện áp) qua người trong một thời gian thì người đó sẽ chết. Tuy nhiên cấu tạo của người đa số là nước, một số vật chất khác trong cơ thể người có thể làm nước phân cực theo điện áp. Vì thế với điện áp nhỏ hơn 50V thì điện trở người rất lớn, không đủ gây ra dòng điện giật. Tuy nhiên với điện áp 100V trở lên thì dòng điện giật sẽ xảy ra và việc đạt cường độ 10mA là rất dễ dàng. Từ đây tôi xin nói về cơ sở dòng rò 10mA mới thực sự là điều bạn cần để ý để tính toán thiết kế cho hệ thống của chính mình.
Việc dòng rò chảy qua dây E thì thực tế rất bình thường, tuy nhiên khi thiết kế, người thiết kế phải chú ý là làm sao không thể xảy ra dòng rò 10mA chạy qua người. Việc bạn quan tâm ở trên là đúng và vì thế người ta phải quy định về độ lớn của dây E sao cho dây E không bị đứt. Các quy phạm, quy chuẩn đều đã quy định việc này rất rõ ràng. Còn về mặt thi công, việc suy nghĩ về an toàn điện cũng phải đặt ra vì nếu anh làm một sản phẩm nguy hiểm thì tâm của anh cũng chẳng an bằng đúng thế không bạn. Hy vọng có ngày nào đó gặp bạn, chúng ta sẽ trao đổi nhiều vấn đề hơn.

tôi đồng ý với bạn về việc thi công ẩu của công nhân việt nam. Nhưng có lẽ bạn hiểu lầm về công dụng của ELR rồi. Khi dịch sang tiếng việt vô tình hay hữu ý mà người dịch sai thành relay chống giật. Thật ra, theo 1 công dụng nào đó thì nó chống giật nhưng chống giật theo nghĩa là phát hiện sự chạm đất trước khi có người vô ý chạm vào. Chứ không hề có nghĩa là khi có người sờ vào dây nóng thì ELR sẽ tác động.

VD : Nếu động cơ đang hoạt động bị giảm cách điện làm chạm vỏ với dòng rò Ir, Nếu không có ELR đặt với dòng bảo vệ nhỏ hơn Ir đủ để ELR tác động bảo vệ, thì dòng rò này sẽ hiện diện trên hệ thống và hệ thống vẫn làm việc “bình thường”. Nếu ai đó chạm vào vỏ động cơ (như máy bơm nước chẳng hạn) sẽ bị điện giật, kiểu giật này rất nguy hiểm đến tính mạng. Nếu có lắp ELR phù hợp, nó sẽ tác động bảo vệ và ta phải sửa chữa động cơ để không bị rò điện nữa. Đây chính là chức năng chống giật của thiết bị.

Còn với hệ thống chỉ lắp có mỗi một cái ELR tại đầu nguồn thì không có tác dụng chống giật như bạn nghĩ đâu. Nếu bạn là chủ đầu tư mà bắt lỗi bên thi công trong trường hợp này là không đúng đâu.

P.S : hôm nào anh em minh off line 1 cái cho hoành tráng nhỉ. bàn luận thêm mà

Xin góp ý với bạn Lenh Ho Xung 1 vài ý kiến như sau:
1. Mình đồng ý với bạn nguyenledung rằng dòng rò sự cố của hệ thống >10A chẳng phải quan trọng gì hết, và ko ảnh hưởng gì cả. Các bác biết rồi đó Ia+Ib+Ic=Ii, cứ theo công thức này thì khi nào ở mạch cuối (sub final circuit) xảy ra hiện tượng rò điện do hư hỏng cách điện hoặc rò qua thiết bị thì sẽ ảnh hưởng đến an toàn cho người sử dụng. Nhưng trường hợp này cũng chỉ là các mạch cho đèn (100mA) và ổ cắm (30mA), chúng ta ko thể set các giá trị này cho mạch động cơ và đặc biệt la UPS vì như vậy sẽ bị trip liên tục.
2. Các mạnh chính cung cấp đến tủ cung cấp từ tủ chính MSB, ko thể nào chúng ta set dòng nhỏ như vậy được. Lúc này công thức trên sẽ được hiểu đơn giản khi 3 pha mất cân bằng sẽ tạo ra dòng Ii đổ vào dây trung tính và lúc đó chúng thường rất lớn. Thông thường ng ta thường set gia trị cho ERL tại MSB co giá trị vào khoảng 6-10% giá trị dòng tổng. Ví dụ: có 1 feeder cấp nguồn cho 1 sub SB với công suất là 1000A, lúc đó bạn sẽ set giá trị từ 60-100A cho ERL. Chính nguyên nhân ko cân bằng pha ở các mạch cuối cộng với dòng rò rất nhỏ từ hàng ngàn thiết bị đầu cuối sẽ dẫn đến dòng rò tổng của đầu nguồn tuyến đó sẽ rất lớn. Vì vậy vấn đề này sẽ phụ thuộc vào thực tế mỗi hệ thống mà set cho phù hợp.
Đây là lý do khẳng định rằng dòng rò lớn hơn 10A là rất bình thường trong thực t

Chào các Bác!
Thật sự thì công trình mình vẫn còn đang tồn tại sự cố đó;
– cứ vài ngày EFR lại nhảy.
– Mình cũng đã thử rất nhiều biện pháp để kiểm soát sự cố, cũng đã thay EFR mới nhưng hoạt động được 2 ngày lại nhảy.
– Dùng Mega ohm kiểm tra cô lập các tải có cách điện dưới 1 mega ohm vẫn cứ nhảy EFR.
– Phụ tải thiết kế là 630 A
– EFR đang được chỉnh tại ngưỡng 36A.
– Đặt biệt công trình mình vừa mới bàn giao cho khách hàng xong nên mình đồng ý với Bác EOCR về ý kiến của Bác, Các phụ tải thực tế không thể có chuyện giống nhau về tiêu thụ năng lượng! nhưng vì công trình mình đang quản lý theo tiêu chuẩn 5 sao, nên các thiết kế chuẩn như nhau kể cả về mặc lựa chọn thiết bị . Tất cả các thiết bị điện trong công trình điều đạt tiêu chuẩn IEC,BS hoặc tương đương.
– Các tải chiếu sang và động lực tại căn hộ điều đượ bảo vệ bởi RCCB.
– Chỉ có các Isolator cho máy lạnh là không được bảo vệ bởi RCCB. ( đây là điểm yếu nhất của công trình vì chủ hộ tự đầu tư máy Lạnh AC) nhưng mình cũng đã kiểm soát rất tốt việc này kể cả việc thử cho chạy đồng bộ theo dõi EFR nhưng vẫn không nhảy, cái khó nhất là EFR nhảy không qui luật.
– Mình nói vậy là để kiềm soát thôi chư không có nghĩa khẳng định điều gì về hệ thống vì thực tế EFR vẫn nhảy đó thôi.
Xin lĩnh giáo ý kiến của Các Bác

Chào bác Phan Cuong,

Cho em được đóng góp ý kiến xem có giúp gì được cho bác ko nhé.
1. EFR bác dùng có phải là loại đo tín hiệu dòng không cân bằng trên 03 pha không? Có kèm chức năng bảo vệ quá dòng không bác? Chỉ 1 cái EFR nhảy hay toàn bộ đều nhảy?
2. Bác đã thay cái mới nhưng mà cách 02 ngày nó mới nhảy. Tức là sự cố không phải ngẫu nhiên (ko phải lúc nào hệ thống cũng bị rò).
3. Chỉnh ở mức 36A là dòng rò cũng tương đối lớn (ở nhà máy em lúc trước ELR dùng ZCT củng chỉ dc set ở 10A cho tổng phụ tải 2000KVA thôi. Có chỉnh dc cao hơn được không bác?
4. Nguyên nhân có thể là do tải không được cân bằng trên 03 pha (bác lần lượt đo dòng trên 3 pha cho em bằng ampe kìm xem chênh lệch thế nào, sau đó đo dòng tổng trên (3 pha và trung tính) xem rò bao nhiêu. Từ đó mình mới biết dc hệ thống của mình thế nào.
5. Nếu EFR vẫn nhảy, và các biện pháp đưa ra đều ko giải quyết dc vấn đề. Tạm thời bác nên tháo dây tín hiệu để trip MCCB ra. Bây giờ, EFR của bác chỉ dùng để giám sát mà thôi. Tránh trường hợp hộ phụ tải bị cắt điện quá nhiều, làm giảm niềm tin của khách hàng. Chú ý: Nếu có kèm bảo vệ quá dòng thì nên xem xét lại một chút. Bác xem cái MCCB có hiệu chỉnh dòng cắt quá tải không? Chắc có lẽ là có. Bác có thể hiệu chỉnh dòng cắt của MCCB để phù hợp với dòng tải sau đó tháo dây tín hiệu ra.
6. Để đảm bảo an toàn, bác có thể tạm thời dùng ZCT để bảo vệ (ZCT kèm ELR). Chức năng cũng tương tự mà có lẽ sẽ giảm thiểu sự có cắt lung tung hơn.
7. Còn nữa, các đầu vào của từng phụ tải đã được bảo vệ bằng RCCB rồi thì quá tôt. Nếu thiết bị điện có rò thực sự, thì đã được cách ly ngay từ đầu rồi.
8. Bác cho em hỏi. Chỉ có “isolator”, isolator là thiết bị gì vậy bác? Máy lạnh AC là máy lạnh kiểu gì?
9. Em đang ngồi đây và tưởng tượng nếu công trình của bác mà bị mất trung tính giống của em thì thế sẽ thế nào nhỉ???
Trên đây là vài ý kiến của em. Bác nào thấy dc thì ủng hộ em cái.

Cái tủ điện tổng cho 8 tầng của bạn chắc có phân 8 nhánh. Sao bạn không cô lập (disconect) từng nhánh ra để kiểm tra. Cái này không phải lỗi của con ELR đâu. Dùng ampe kìm kiểm tra dòng 3 pha từng nhánh xem sao, do các tầng hoàn toàn giống nhau nên dễ loại trừ nếu có 1 tầng khác.

Pác Phan Cuong không nói rõ là pác bảo vệ Earth Fault theo kiểu nào thì khó lòng góp ý nổi
– Nếu bác sử dụng 4PCT để bảo vệ EF: loại này do độ nhạy khá thấp nên sự cố nhảy do nhiễu thường không có, vấn đề tác động nhầm thường là do đấu sai chiều cực tính gây mất cân bằng pha, bác kiểm tra lại cực tính sửa lại dây CT sẽ hết. Nếu chiều CT đã đấu đúng thì sự cố là có thật bác nên kiểm lại hệ thống.
– Nếu bác dùng ZCT thì hơi mệt đấy: loại này có dòng rò khá nhạy nên việc tìm kiếm hơi khó khăn. Trước hết bác phải thi công dây tính hiệu đúng theo yêu cầu để tránh nhiễu do cảm ứng. tiếp theo do độ nhạy cao nên nó thường tác động sai đối với các mạch có xung cao (mạch có chứa tụ bù, inverter, động cơ, các thiết bị tạo cao tần.v.v…). Ngoài ra có thể do bác đã đấu nhằm E-N dẫn đến dòng tuần hoàn có trong mạch…Loại này bị nhiều ảnh hưởng phức tạm nên bác cần phải kiểm tra kỹ HT mới giải quyết hết tác động sai được. Với HT tiếp đất TN-S ở VN nếu không có nhu cầu đặt biệt thì không nên sử dụng. Tôi đồng ý với bác LHX vì với dòng rò trên 15mA mà bảo ràng có an toàn không thì cần phải xét đến nhiều điều kiện, và quan trọng nhất là điện áp tiếp xúc mà dòng rò đó gây ra để dòng chạy qua cơ thể người có an toàn hay không
Một chút hiểu biết nho nhỏ hy vọng có thể giúp được pác  (sưu tầm)

CÁCH CHỌN TỤ BÙ THEO TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ (IEC)

I.Tại sao cần cải thiện hệ số công suất:

  1. 1. Giảm giá thành tiền điện:

– Nâng cao hệ số công suất đem lại những ưu điểm về kỹ thuật và kinh tế, nhất là giảm tiền điện.

– Trong giai đoạn sủ dụng điện có giới hạn theo qui định. Việc tiêu thụ năng lượng phản kháng vượt quá 40% năng lượng tác dụng (tgφ > 0,4: đây là giá trị thoã thuận với công ty cung cấp điện) thì người sử dụng năng lượng phản kháng phải trả tiền hàng tháng theo giá hiện hành.

–  Do đó, tổng năng lượng phản kháng được tính tiền cho thời gian sử dụng sẽ là:

kVAr ( phải trả tiền ) = KWh ( tgφ – 0,4)

– Mặc dù được lợi về giảm bớt tiền điện, người sử dụng cần cân nhắc đến yếu tố phí tổn do mua sắm, lắp đặt bảo trì các tụ điện để cải thiện hệ số công suất.

  1. 2. Tối ưu hoá kinh tế – kỹ thuật

– Cải thiện hệ số công suất cho phép người sử dụng máy biến áp, thiết bị đóng cắt và cáp nhỏ hơn V.V…đồng thời giảm tổn thất điện năng và sụt áp trong mạng điện.

– Hệ số công suất cao cho phép tối ưu hoá các phần tử cung cấp điện. Khi ấy các thiết bị điện không cần định mức dư thừa. Tuy nhiên để đạt được kết quả tốt nhất, cần đặt tụ cạnh cạnh từng phần tử của thiết bị tiêu thụ công suất phản kháng.

Cải thiện hệ số công suất

– Để cải thiện hệ số công suất của mạng điện, cần một bộ tụ điện làm nguồn phát công suất phản kháng. Cách giải quyết này được gọi là bù công suất phản kháng.

-Tải mang tính cảm có hệ số công suất thấp sẽ nhận thành phần dòng điện phản kháng từ máy phát đưa đến qua hệ thống truyền tải phân phối. Do đó kéo theo tốn thất công suất và hiện tượng sụt áp.

– Khi mắc các tụ song song với tải, dòng điện có tính dung của tụ sẽ có cùng đường đi như thành phần cảm kháng của dòng tải. vì vậy hai dòng điện này sẽ triệt tiêu lẫn nhau IC = IL. Như vậy không còn tồn tại dòng phản kháng qua phần lưới phía trước vị trí đặt tụ.

– Đặc biệt ta nên tránh định mức động cơ quá lớn cũng như chế độ chạy không tải của động cơ. Lúc này hệ số công suất của động cơ rất nhỏ (0,17) do lượng công suất tác dụng tiêu thụ ở chế độ không tải rất nhỏ.

II. Các thiết bị bù công suất:

1. Bù trên lưới điện áp

Trong mạng lưới hạ áp, bù công suất được thực hiện bằng :

–          Tụ điện với lượng bù cố định (bù nền).

–          Thiết bị điều chỉnh bù tự động hoặc một bộ tụ cho phép điều chỉnh liên tục theo yêu cầu khi tải thay đổi.

Chú ý : Khi công suất phản kháng cần bù vượt quá 800KVAr và tải có tính liên tục và ổn định, việc lắp đặt bộ tụ ở phía trung áp thường có hiệu quả kinh tế tốt hơn.

2. Tụ bù nền

Bố trí bù gồm một hoặc nhiều tụ tạo nên lượng bù không đổi. việc điều khiển có thể thực hiện:

–          Bằng tay: dùng CB hoặc LBS ( load – break switch )

–          Bán tự động: dùng contactor

–          Mắc trực tiếp vào tải đóng điện cho mạch bù đồng thời khi đóng tải.

Các tụ điện được đặt:

–          Tại vị trí đấu nối của thiết bị tiêu thụ điện có tính cảm ( động cơ điện và máy biến áp ).

–          Tại vị trí thanh góp cấp nguồn cho nhiều động cơ nhỏ và các phụ tải có tính cảm kháng đối với chúng việc bù từng thiết bị một tỏ ra quá tốn kém.

–          Trong các trường hợp khi tải không thay đổi.

3. Bộ tụ bù điều khiển tự động ( bù ứng động )

– Bù công suất thường được hiện bằng các phương tiện điều khiển đóng ngắt từng bộ phận công suất.

– Thiết bị này cho phép điều khiển bù công suất một cách tự động, giữ hệ số công suất trong một giới hạn cho phép chung quanh giá trị hệ số công suất được chọn.

– Thiết bị này được lắp đặt tại các vị trí mà công suất tác dụng và công suất phản kháng thay đổi trong phạm vi rất rộng. ví dụ: tại thanh góp của tủ phân phối chính, tại đầu nối của các cáp trục chịu tải lớn.

Các nguyên lý và lý do sử dụng bù tự động:

– Bộ tụ bù gồm nhiều phần và mỗi phần được điều khiển bằng contactor. Việc đóng một contactor sẽ đóng một số tụ song song với các tụ vận hành. Vì vậy lượng công suất bù có thể tăng hay giảm theo từng cấp bằng cách thực hiện đóng hoặc cắt contactor điều khiển tụ. Một rơley điều khiển kiểm soát hệ số công suất của mạng điện sẽ thực hiện đóng và mở các contactor tương ứng để hệ số công suất cả hệ thống thay đổi ( với sai số do điều chỉnh từng bậc ). Để điều khiển rơle máy biến dòng phải đặt lên một pha của dây cáp dẫn điện cung cấp đến mạch được điều khiển. Khi thực hiện bù chính xác bằng các giá trị tải yêu cầu sẽ tránh được hiện tượng quá điện áp khi tải giảm xuống thấp và do đó khử bỏ các điều kiện phát sinh quá điện áp và tránh các thiệt hại xảy ra cho trang thiết bị.

– Quá điện áp xuất hiện do hiện tượng bù dư phụ thuộc một phần vào giá trị tổng trở nguồn.

Các qui tắc bù chung

– Nếu công suất bộ tụ ( kVar ) nhỏ hơn hoặc bằng 15% công suất định mức máy biến áp cấp nguồn, nên sử dụng bù nền.

– Nếu ở trên mức 15%, nên sử dụng bù kiểu tự động.

– Vị trí lắp đặt tụ áp trong mạng điện có tính đến chế độ bù công suất; hoặc bù tập trung, bù nhóm, bù cục bộ, hoặc bù kết hợp hai phương án sau cùng.

– Về nguyên tắc, bù lý tưởng có nghĩa là bù áp dụng cho từng thời điểm tiêu thụ và với mức độ mà phụ tải yêu cầu cho mỗi thời điểm.

– Trong thực tiễn, việc chọn phương cách bù dựa vào các hệ số kinh tế và kỹ thuật.

Vị trí lắp đặt tụ bù:

3.1 Bù tập trung : áp dụng cho tải ổn định và liên tục.

Nguyên lý : bộ tụ đấu vào thanh góp hạ áp của tủ phân phối chính và được đóng trong thời gian tải hoạt động.

Ưu điểm:

– Giảm tiền phạt do vấn đề tiêu thụ công suất phản kháng .

– Làm giảm công suất biểu kiến.

– Làm nhẹ tải cho máy biến áp và do đó nó có khả năng phát triển thêm các phụ tải cần thiết.

Nhận xét :

– Dòng điện phản kháng tiếp tục đi vào tất cả lộ ra tủ phân phối chính của mạng hạ thế.

– Vì lý do này kích cỡ dây dẫn , công suất tổn hao không được cải thiện ở chế độ bù tập trung.

3.2 Bù nhóm ( từng phân đoạn ).

Bù nhóm nên sử dụng khi mạng điện quá lớn và khi chế độ tải tiêu thụ theo thời gian của các phân đoạn thay đổi khác nhau.

Nguyên lý : bộ tụ được đấu vào tủ phân phối khu vực . hiệu quả do bù nhóm mang lại cho dây dẫn xuất phát từ tủ phân phối chính đến các tủ khu vực có đặt tụ được thể hiện rõ nhất.

Ưu điểm:

– Làm giảm tiền phạt do vấn đề tiêu thụ công suất phản kháng.

–  Làm giảm công suất biểu kiến yêu cầu.

– Kích thước dây cáp đi đến các tủ phân phối khu vực sẽ giảm đi hoặc với cùng dây cáp trên có thể tăng thêm phụ tải cho tủ phân phối khu vực.

Nhận xét :

– Dòng điện phản kháng tiếp tục đi vào tất cả dây dẫn xuất phát từ tủ phân phối khu vực.

– Vì lý do này mà kích thước và công suất tổn hao trong dây dẫn nói trên không được cải thiện với chế độ bù nhóm.

– Khi có sự thay đổi đáng kể của tải, luôn luôn tồn tại nguy cơ bù dư và kèm  theo hiện tượng quá điện áp.

3.3 Bù riêng:

Bù riêng nên được xét đến khi công suất động cơ lớn đáng kế so với mạng điện.

Nguyên lý: bộ tụ mắc trực tiếp vào đầu dây nối của thiết bị dùng điện có tính cảm ( chủ yếu là các động cơ ).

Bộ tụ định mức ( kVAr) đến khoảng 25%  giá trị công suất động cơ. Bù bổ sung tại đầu nguồn điện cũng có thể mang lại hiệu quả tốt.

Ưu điểm :

Làm giảm tiền phạt do tiêu thụ công suất phản kháng (kVAr)

Giảm công suất biểu kiến yêu cầu.

Giảm kích thước và tổn hao dây dẫn đối với tất cả dây dẫn.

Nhận xét :

Các dòng điện phản kháng có giá trị lớn sẽ không còn tồn tại trong mạng điện.

3.4 Mức độ bù tối ưu

Phương pháp chung

Bảng số liệu tính toán công suất phản kháng cần thiết trong giai đoạn thiết kế. qua đó có thể xác định công suất phản kháng và công suất tác dụng cho mức độ bù khác nhau.

Vấn đề tối ưu hoá kinh tế kỹ thuật cho một mạng điện đang hoạt động.

Việc tính toán định mức bù tối ưu cho một mạng đã tồn tại có thể thực hiện theo những lưu ý sau:

+ Tiền điện trước khi đặt bù

+ Tiền điện tương lai sau khi lắp tụ bù.

+ Các chi phí bao gồm :

–          Mua tụ bù và mạch điều khiển.

–          Lắp đặt và bảo trì

–          Tổn thất trong tụ và tổn thất trên dây cáp, máy biến áp sau khi lắp tụ bù.

III. Chọn Tụ Bù :

1. Phương pháp tính đơn giản:

(để chọn tụ bù cho một tải nào đó thì ta cần biết công suất(P) của tải đó và hệ số công suất (Cos φ) của tải đó):

Giả sử ta có công suất của tải là P

Hệ số công suất của tải là Cos φ1 → tg φ1 ( trước khi bù )

Hệ số công suất sau khi bù là Cos φ2 → tg φ2.

Công suất phản kháng cần bù là QC = P (tgφ1 – tgφ2 ).

Từ công suất cần bù ta chọn tụ bù cho phù hợp trong bảng catalog của nhà cung cấp tụ bù.

Để dễ hiểu ta sẽ cho ví dụ minh hoạ như sau:

Giả sử ta có công suất tải là P = 270 (KW).

Hệ số công suất trước khi bù là cosφ1 = 0.75 → tgφ1 = 0.88

Hệ số công suất sau khi bù là Cosφ2 = 0.95 → tgφ2 = 0.33

Vậy công suất phản kháng cần bù là Q = P ( tgφ1 – tgφ2 )

Q = 270( 0.88 – 0.33 ) = 148.5 (KVAr)

Từ số liệu này ta chọn tụ bù trong bảng catalog của nhà sản xuất giả sử là ta có tụ 25KVAr. Để bù đủ cho tải thì ta cần bù 6 tụ 25 KVAr tổng công suất phản kháng là 6×25=150(KVAr) với 6 tụ bù này ta chọn bộ điều khiển 6 cấp như sơ đồ hình vẽ:

2. Phương pháp bù tối ưu dựa vào điều kiện không đóng tiền phạt:

Xét hoá đơn tiền điện liên quan đến dung lượng kVArh đã tiêu thụ và ghi nhận số kVArh phải trả tiền  sau đó, chọn hoá đơn tiền giá kVArh cao nhất phải trả (không xét đến trường hợp ngoại lệ).

Ví dụ: 15965 kVArh trong tháng giêng

Tính tổng thời gian hoạt động trong tháng đó ví dụ : 220h số giờ xét để tính là những giờ mà hệ thống điện chịu tải lớn nhất và tải đạt giá trị đỉnh cao nhất. ngoài thời gian kể trên việc tiêu thụ công suất phản kháng là miễn phí.

Giá trị công suất cần bù:

[kVAr] =  = Q

kVAr : số kVAr phải trả tiền.

T : số giờ hoạt động

Dung lượng bù thường được chọn cao hơn giá trị tính toán một chút.

Một số hãng cung cấp qui tắc thước loga thiết kế đặt biệt  cho việc tính toán này theo các khung giá riêng. Công cụ trên và các dữ liệu kèm theo giúp ta chọn lựa thiết bị bù và sơ đồ điều khiển thích hợp, đồng thời ràng buộc của các sóng hài điện áp trong hệ thống điện . các sóng hài này đòi hỏi sử dụng định mức tụ dư ( liên quan đến giải nhiệt, định mức áp và dòng điện ) và các cuộn kháng hoặc mạch để lọc sóng hài.

Khắc phục quá dòng, chạm đất…

Cách xử lý khi hệ thống tủ chính gặp lỗi về quá dòng,chạm đất,thấp áp,quá áp…

Việc đầu tiên chúng ta phải xác định rõ ràng là thiết bị nào tríp. O/C-E/F, U/V-O/V

Có 2 trường hợp:

1-Trường hợp lỗi về phần quá dòng và chạm đất (O/C-E/F):

* Chúng ta kiểm tra bằng cách nhìn bằng mắt vào bộ bảo vệ quá dòng và chạm đất (O/C-E/F) có tín hiệu báo lỗi bằng đèn hiển thị chớp liên tục,nếu như chắc chắn rằng do quá dòng và chạm đất (O/C-E/F) thì chúng ta nhấn vào nút Cancel Reset Test sau đó chúng ta có thể xem lại những giá trị trip bằng cách kiểm tra các thông số lưu lại trên bộ bảo vệ quá dòng và chạm đất (O/C-E/F)…..

Download : Cach xử lý quá dòng, chạm đất